
Cổng nghĩa địa
Từ đầu đường Trấn Hải Thành về Hòa Duân vài trăm mét, thành Trấn Hải nằm trên đồi cao bên phải. Dưới đường nhìn lên, một bờ tường đen mốc sứt mẻ cong cong chừng sáu bảy mươi mét. Lên tam cấp có cửa vào thành, đây là cổng sau bỏ trống, có lẽ qua thời gian, cổng thành đã bị hư hại.
Theo sử ghi, trước đây có lúc biển vào sát chân thành, nay nơi này là đường cái lớn, đường Trấn Hải Thành. Cư dân nhà san sát bao quanh thành. Rừng phi lao từ đường ra tận bờ biển khá xa, không thấy cây dừa nào. Thời nhà Nguyễn đã cho trồng hàng nghìn cây để chận sóng biển, thành Trấn Hải nằm bên bờ Bắc cửa Eo. Cửa Eo nay là một doi đất hơi trũng xuống, nhà dân đến sát bờ thành, không còn dấu vết gì về một cửa biển nữa (1).
Trong cổng thành có tòa nhà hai tầng do người Pháp xây làm khu hành chánh từ năm 1883, nay chỉ còn bộ khung hoang phế, rêu phong cũ kỹ, chẳng thấy dấu vết dinh cơ thành lũy ngày xưa, trái lại nhiều nhà cấp 4, có công viên, đây là đồn công an biên phòng. Thành chỉ có hai cổng, cổng sau ở phía Đông, như đã thấy, cổng trước phía Tây, đã xây lại, có cửa đóng, trên đầu cổng có ba chữ Tàu “Trấn Hải Thành” mờ nhạt. Kiến trúc cổng đơn giản thô thiển, khác với cổng của nhiều cổ thành xưa thường thấy, tôi nghĩ đây là mẫu cổng tự chế chứ chắc không dựa theo nguyên mẫu cũ... Mặt tiền của thành Trấn Hải nay đã bị nhà dân che khuất gần hết chỉ còn một lối vào thành hẹp như đường hẻm. Nhìn chung Trấn Hải Thành nay không còn nét oai phong của một thành lũy chống giặc mà các vua triều Nguyễn đã dày công xây dựng mấy trăm năm trước.

Khu mộ hợp táng
Vòng thành Trấn Hải dày khoảng 12m60 (tài liệu cổ). Thành xây hai lớp gạch, mỗi lớp dày chưa tới 1m, giữa đổ đất. Mặt tường ngoài nhiều chỗ đổ nát, mang dấu tích một cổ thành. Khi hỏi về giai đoạn lịch sử Pháp đánh chiếm thành Trấn Hải, nhiều người lớn tuổi ở địa phương xác nhận hàng nghìn người chết hợp táng nơi một lăng mộ cách thành vài chục mét. Lần theo chỉ dẫn tôi đi tìm khu mộ nói trên.
Một cổng xây đơn sơ bên mé đường đề “Lăng mộ Âm Linh”, bên trong nhiều mộ xây lớn nhỏ cao thấp, rời rạc dọc ngang không hàng lối. Qua cổng lăng mộ, một đoạn đường tráng xi măng chỉ mươi lăm mét. Muốn đi tiếp phải lách người qua nhiều thành mộ xây cao (2), lần vào sau xa, có một khu đất vuông vắn bề khoảng 30m, xây thành và rào chung quanh, phía trước có nhà thờ, nhiều câu đối chữ Hán, sân gạch khá rộng, có cây bóng mát và bên góc phải một vài ngôi mộ nhỏ. Cổng khóa, tôi đứng ngoài nhìn vào, chưa biết đây là gì thì có người đi qua, tôi hỏi:
- Đây là gì hả bác?
- Là mộ “Các Bác” đó.
Thấy tôi ngơ ngớ chưa hiểu, ông lão giải thích thêm:
- Thưở xưa khi Pháp đổ bộ vô Thuận An, chiếm thành Trấn Hải, quân triều đình chống trả, dân quân bị Pháp giết hàng nghìn người. Tất cả chôn chung ở đây.
- Vậy sao chỉ có mấy ngôi mộ lẻ tẻ kia.
- Cấy nớ khôông phải mô, đó là mộ mấy “bác” lượm ngoài biển (3) mới đem vô năm ni. Còn “các bác” hồi xưa chôn nơi đám đất sau nhà tế, chỗ nớ tề.
Bấy giờ tôi mới hiểu, đám đất bằng là mộ, phía trước là nhà tế lễ. Ông già còn cho biết cứ lệ ba năm có một kỳ lễ lớn, còn hằng năm đến rằm tháng 7 âm lịch đều có người đến lo nhang khói. Tôi bồi hồi tưởng tượng hơn 200 năm trước, nơi đây đã diễn ra trận đánh không cân sức, giữa quân Pháp có tàu chiến, đại bác, quân triều đình chỉ có giáo gươm, nhưng hàng hàng lớp lớp đã xông trận trong tiếng hò reo dậy trời. Lớp trước ngã, lớp sau tiến lên, đấy không phải là chiến thuật biển người để lập chiến công, mà do lòng căm thù giặc, quyết hy sinh cho tổ quốc sống còn. Kết cục, bao nhiêu đồn binh chung quanh và cả Trấn Hải Thành đều bị quân Pháp tiêu diệt. Viên hạm trưởng của hải quân Pháp, Picard Destelan đã ca ngợi tinh thần bất khuất của quân ta: “Các pháo thủ đã chết bên những khẩu pháo, họ là những người dũng cảm... Họ nằm xuống, cát vùi

Nhà tế lễ
thây vào lòng đất, họ là những chiến binh tuyệt vời...”.
Mấy mươi năm sau ngày Trấn Hải Thành thất thủ, Hoài Nam Nguyễn Trọng Cẩn (4) trong một dịp về Thuận An để nhìn lại bãi chiến trường xưa, đã tỏ nỗi ngậm ngùi qua bài thơ “Thuận An hoài cổ”, có những câu:
Khẩu súng Hải Đài rêu bít miệng,
Hồn oan chiến sĩ sóng nhoi đầu.
Ngự đề tám cảnh còn đâu đó,
Một cảnh nhìn ra một cảnh đau.
Nhà thơ tiền bối Ưng Bình Thúc Dạ Thị (1877-1961), một thi nhân nổi tiếng của sông Hương núi Ngự cũng cùng tâm trạng đã để lại những câu thơ đầy cảm khái khi về viếng Thuận An:
Trước dinh quan Tướng không quân sĩ,
Trong điện bà Giàng có lửa hương.
Gượng gạo bước lên đài Trấn Hải,
Bâng khuâng ngó lại bãi sa trường.
Điều đáng nói là một di tích lịch sử trọng đại oai hùng như thế, một trang sử đau thương của xứ sở đã để lại trong lòng người bao căm hờn nuối tiếc, mà mấy trăm năm nay như bị bỏ quên, không có được một hình thức chôn cất cho đàng hoàng, lại còn bị lấn chiếm như muốn xóa nhòa tất cả. Đáng ra, không
những xây một lăng mộ tầm cỡ mà rất nên dựng một tượng đài nơi đây để ghi ơn hàng nghìn nghĩa sĩ anh hùng đã xả thân chống giặc ngoại xâm. Tiếc thay, nhiều nơi lại đem tiền của lập đền tôn vinh những tên tuổi huyền thoại xa lạ mơ hồ.
Sau khi xem qua Trấn Hải Thành, tôi lần về Hòa Duân, An Dương “thăm dân cho biết sự tình”. Điều thấy rõ là phần lớn nhà cửa khá khang trang rộng rãi, toàn nhà xây, vài nhà có cả ô tô chở hàng. Dư luận cho rằng nhờ nguồn tài trợ từ nước ngoài chứ thực tế cuộc sống rất chật vật đắp đổi qua ngày (5).
Buổi chiều dọc đường Trấn Hải Thành men bờ phá Tam Giang, thuyền ghe san sát, nhiều bàn nhậu dưới rừng dương, dân địa phương tụ tập giải lao thư giãn. Đời sống vô tư an nhàn. Lúc này mà đem chuyện nước non thế sự ra bàn là điều khó ai chấp nhận. Ngay cả người dân nơi thị thành, sau một ngày chạy gạo, chiều tối là nhậu cho quên đời. Ăn nhậu là chạy trốn thực tế trước mắt để tâm hồn yên ổn phần nào dù biết là giả tạo. Biết bao nhiêu bài báo của các nhà trí thức viết về xã hội hôm nay, một xã hội tuột dốc không lực kềm hãm (6).
Trời chiều tiếng sóng vỗ mơ hồ phụ họa với hình ảnh nhạt nhòa của một trang sử oai hùng vừa sống lại trong tôi. Không ngờ nơi cửa biển này, cửa Eo cửa Thuận, lại là nơi ghi dấu bao nhiêu anh hùng vô danh đã xả thân vì đại nghĩa, nay chỉ là thứ “Âm Linh-Cô Hồn” nhòa nhạt…! Con cháu đời sau liệu có còn được biết, hay tất cả rồi sẽ bị cát bụi chôn vùi, bị sóng biển kéo ra khơi! “Uống nước nhớ nguồn”, câu tục ngữ ý nghĩa ấy hầu như nay chỉ còn là một thứ trang trí, người đang sống đây, đang ăn quả, đang uống nước, còn muốn quên nguồn quên cội, thì trách gì thế hệ mai sau.
(Kết thúc loạt bài này tôi lại được tin còn một Miếu Âm Linh ở Thai Dương Hạ, nơi chôn những chiến sĩ của Trấn Hải Thành trôi về đó, những nạn nhân của trận sóng thần năm 1904, những người chết đói năm Ất Dậu và cả những người “lạc
đạn” ngày 30-4-75. Tôi sẽ tìm thăm trong những ngày tới).
Tháng 8 – 2012
(trích QHQOK tập 14)
(1) Theo dân địa phương cho biết cửa Eo bị biển lùa cát vào lấp từ năm 1953, đồng thời mở cửa mới giữa Hải Tiến và Thai Dương hạ tức cửa Thuận An ngày nay. Trước năm 1999 chưa có đường Trấn Hải Thành, vùng đất từ Thuận An về Hòa Duân, Cự Lại toàn cát. Sau trận bão năm 99, sóng biển lấn vào sát Trấn Hải Thành, lúc bấy giờ nhà nước mới làm đường nhựa lớn chạy thẳng về cửa Tư Hiền, bãi biển nay trồng nhiều phi lao. Từ đó đất Thuận An có giá, dân ngày càng đông và sầm uất như hôm nay.
(2) Hầu hết mộ vùng Thuận An xây cao để tránh cát biển vùi.
(3) Đón đón đọc “Âm vang ngày cũ”.
(4) Nhà thơ Nguyễn Trọng Cẩn (1900 - 1947) hiệu là Hoài Nam, sinh năm 1900 tại Quảng Bình. Ông có trí nhớ hơn người, văn viết lưu loát, tự nhiên. Ông là chủ bút tạp chí “Thần kinh” (Huế, 1927). Năm 1932, Pháp cho vua Bảo Đại được trực tiếp tham chính và thay nội các mới. Năm thượng thư trong nội các: Nguyễn Hữu Bài (Bộ Lại), Tôn Thất Đàn (Bộ Hình), Phạm Liệu (Bộ Binh), Võ Liêm (Bộ Lễ) và Vương Tứ Đại (Bộ Công) bị cho về nghỉ. Ngày 11-11-1932, Phạm Quỳnh được mời về Huế làm Ngự Tiền Đổng Lý văn phòng, sau đó làm Thượng Thư Bộ Học, rồi Thượng Thư Bộ Lại. Nguyễn Trọng Cẩn ghi lại biến cố đó trong bài thơ này:
Năm cụ khi không rớt cái ình,
Đất bằng sấm dậy giữa thần kinh.
Bài không đeo nữa xin dâng lại,
Đàn chẳng ai nghe khéo dở hình.
Liệu thế không xong binh chẳng được,
Liêm đành chịu đói lễ đừng dinh.
Công danh như thế là hư hỉ,
Đại sự xin nhường kẻ hậu sinh.
Ông mất năm 1947 do trúng đạn của quân Pháp.
Tác phẩm: Tiếng quốc canh khuya (thơ, 1937)
(5) Thuận An số người vượt biển khá đông.
(6) Độc giả có thể tìm đọc trên VietnamNet - Thanh Niên – Tuổi Trẻ nhiều vô số.
Sách đã in: Quê Hương Qua Ống Kính tập 1 đến tập 13, Buồn Vui Nghề Chơi Cây Kiểng, Mùa Nước Lũ (Truyện), Về Nhiếp Ảnh, Thăng Trầm (chuyện buồn vui một đời người), sách dày trên 200 trang, có 8 phụ bản ảnh màu và cả trăm ảnh đen trắng.
Độc giả muốn có sách nguyên bộ 13 tập (discount 50%) xin liên lạc tác giả qua PO. Box 163, Garden Grove, CA 92842. Điện thoại: (714) 657-2177, Email: trannhungcong46@gmail.com, Website:www.ltcn.net
No comments:
Post a Comment